Trang: 619-633 Nguyễn Đức Tâm, Mai Tiến Chinh, Phạm Văn KýTóm tắtĐánh giá độ tin cậy an toàn chống trật bánh là nội dung quan trọng trong phân tích động lực học phương tiện–đường ray khi đáp ứng của hệ số trật bánh chịu ảnh hưởng của độ không phẳng thuận ngẫu nhiên của đường ray. Bài báo đề xuất khung đánh giá độ tin cậy an toàn chống trật bánh cho hệ số trật bánh Y/Q trên cơ sở kết hợp mô phỏng động lực học ngẫu hợp phương tiện–đường ray, phân phối giá trị cực trị tổng quát GEV và Bootstrap. Dữ liệu được xây dựng từ 150 kịch bản mô phỏng đoàn tàu hàng loại G chạy qua một đường cong điển hình trên tuyến đường sắt Thống Nhất. Giá trị cực đại của Y/Q trong mỗi kịch bản được trích xuất để tạo mẫu cực trị khối, phục vụ khớp phân phối, ước lượng xác suất trật bánh, đánh giá độ tin cậy và xác định mức cực trị chu kỳ zT. Kết quả cho thấy Gumbel được lựa chọn làm mô hình trung tâm để diễn giải kỹ thuật. Xác suất trật bánh ứng với ngưỡng [Y/Q]lim = 1,2 là rất nhỏ, tương ứng độ tin cậy xấp xỉ bằng 1. Tại chu kỳ dài nhất T = 54000 lượt tàu, zT đạt 0,439 theo GEV và 0,470 theo Gumbel, thấp hơn đáng kể so với ngưỡng đánh giá. Kết quả khẳng định khả năng ứng dụng của khung GEV–Bootstrap trong đánh giá độ tin cậy an toàn chống trật bánh
Trang: 634-644 Phạm Trung HiệpTóm tắtMắc cạn tàu biển là sự cố kỹ thuật nghiêm trọng khi thân tàu tiếp xúc trực tiếp với đáy biển trong điều kiện bất lợi, đe dọa an toàn kết cấu, khả năng vận hành và có thể gây tổn thất về người và kinh tế. Trong điều kiện vùng nước nông và luồng hàng hải hạn chế, việc kiểm soát tốc độ tàu được xem là một trong những giải pháp hiệu quả nhằm giảm thiểu rủi ro tai nạn. Phần mềm SHIPGROUND được phát triển trên cơ sở phương pháp luận của Đăng kiểm tàu Biển Liên Bang Nga đối với tàu chuyên dụng mang ký hiệu NAABSA. Phần mềm cho phép xác định các tham số đặc trưng của quá trình tương tác như phản lực nền đáy, góc chúi của tàu, quãng đường hãm và thời gian tương tác. Thông qua các kết quả tính toán, nghiên cứu đã thiết lập các quy luật và xây dựng công thức, các biểu đồ giới hạn tốc độ. Các công thức và biểu đồ giới hạn tốc độ đề xuất cung cấp công cụ hỗ trợ thuyền trưởng trong quá trình khai thác, góp phần nâng cao mức độ an toàn hàng hải và giảm thiểu nguy cơ xảy ra sự cố mắc cạn
Đặc tính từ biến - phục hồi của nhựa cải tiến sử dụng phụ gia tough flex – R
Trang: 645-658 Trần Danh Hợi, Trần Thị Cẩm Hà, Nguyễn Quang TuấnTóm tắtHằn lún vệt bánh xe và nứt dưới tác động của nhiệt độ cao và tải trọng giao thông là những dạng hư hỏng phổ biến làm suy giảm tuổi thọ khai thác của mặt đường mềm. Do đó, việc nghiên cứu các phụ gia cải tiến nhằm nâng cao khả năng kháng biến dạng và phục hồi đàn hồi của nhựa đường có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát triển các giải pháp vật liệu bền vững cho kết cấu mặt đường. Bài báo này đánh giá đặc tính từ biến – phục hồi của nhựa đường 60/70 cải tiến bằng phụ gia Tough Flex-R (TFR) và so sánh với nhựa đường polymer (PMB III) thông qua thí nghiệm từ biến – phục hồi ứng suất lặp (MSCR). Các mẫu nhựa đường sau hóa già ngắn hạn bằng thiết bị lò xoay màng mỏng (RTFO) được thí nghiệm tại nhiều mức nhiệt độ và hai cấp ứng suất 0,1 kPa và 3,2 kPa nhằm xác định độ tuân thủ từ biến không phục hồi (Jnr) và phần trăm phục hồi (R). Kết quả cho thấy nhiệt độ và ứng suất làm tăng giá trị Jnr và giảm giá trị R đối với tất cả các loại nhựa đường, phản ánh sự suy giảm tính đàn hồi và gia tăng ứng xử nhớt. So với nhựa đường 60/70, các mẫu sử dụng TFR thể hiện khả năng phục hồi đàn hồi cao hơn và biến dạng không phục hồi thấp hơn. Trong phạm vi nghiên cứu, hàm lượng 25% TFR cho hiệu quả tốt nhất với giá trị R cao và Jnr thấp, tiệm cận đặc tính của PMB III. Kết quả nghiên cứu cho thấy TFR là phụ gia tiềm năng nhằm nâng cao khả năng kháng hằn lún và cải thiện tính đàn hồi của nhựa đường trong điều kiện nhiệt độ khai thác cao
Trang: 659-671 Nguyễn Viết Đạt, Trần Danh HợiTóm tắtMặt đường bê tông nhựa truyền thống có màu đen với hệ số phản xạ bức xạ mặt trời thấp, dẫn đến khả năng hấp thụ và tích nhiệt lớn, làm gia tăng nhiệt độ bề mặt và góp phần vào hiện tượng đảo nhiệt đô thị. Do đó, việc nghiên cứu và phát triển các vật liệu mặt đường sáng màu, có khả năng phản xạ bức xạ mặt trời tốt hơn, là cần thiết. Bituclair ES là nhựa đường tổng hợp bán trong suốt, không chứa asphaltene và được bổ sung phụ gia polymer, có đặc tính quang học giúp nâng cao khả năng phản xạ của mặt đường. Do ứng xử lưu biến cắt động của nhựa đường được đặc trưng bởi mô đun cắt động (|G*|) và góc lệch pha (δ) – các thông số liên hệ với khả năng kháng nứt và kháng mỏi – nghiên cứu này tập trung phân tích đặc trưng lưu biến của Bituclair ES thông qua thí nghiệm cắt động lưu biến (DSR) nhằm làm rõ cơ chế làm việc của vật liệu dưới tải trọng động. Thí nghiệm được thực hiện trên thiết bị SmartPave 92 (Anton Paar, Áo) trong dải rộng tần số và nhiệt độ để xây dựng đường cong chủ của |G*| và δ, đồng thời xác định giá trị tại tần số 10 Hz. Kết quả cho thấy Bituclair ES đạt cấp PG 76. Phân tích đường cong chủ chỉ ra rằng vật liệu này có |G*| cao hơn nhựa đường 60/70 ở vùng nhiệt độ cao/tần số thấp nhưng thấp hơn ở vùng nhiệt độ thấp/tần số cao, cho thấy tiềm năng cải thiện khả năng chống hằn lún và kháng nứt của hỗn hợp bê tông nhựa khi sử dụng Bituclair ES
Trang: 672-686 Lê Khánh Giang, Hồ Thị Lan Hương, Nguyễn Thuỳ LinhTóm tắtCông nghệ định vị vệ tinh GNSS-RTK được sử dụng rộng rãi trong các hệ thống quan trắc sức khỏe công trình (SHM) của cầu dây văng nhịp lớn nhờ khả năng đo chuyển dịch ba chiều liên tục với độ chính xác cao. Tuy nhiên, chuỗi dữ liệu GNSS-RTK thường chứa các giá trị bất thường do hiệu ứng đa đường, gián đoạn tín hiệu và các nhiễu môi trường. Nghiên cứu này tập trung vào bài toán phát hiện và loại bỏ các ngoại lai trong dữ liệu chuyển dịch GNSS-RTK của cầu dây văng. Một khung học máy lai ghép kết hợp hai thuật toán Isolation Forest (IF) và Local Outlier Factor (LOF) được đề xuất. Trong giai đoạn đầu, IF thực hiện sàng lọc toàn cục để xác định các điểm nghi ngờ. Sau đó, LOF đánh giá mật độ cục bộ của các điểm này nhằm xác nhận các ngoại lai thực sự thông qua cơ chế xác nhận kép. Phương pháp được kiểm chứng trên bộ dữ liệu GNSS-RTK của cầu Cần Thơ gồm 12.615 mẫu chuyển dịch. Kết quả cho thấy mô hình lai ghép phát hiện 177 ngoại lai (1,40%), thấp hơn so với IF (253 điểm) và LOF (379 điểm). Bên cạnh đó, việc chỉ áp dụng LOF trên tập các quan trắc nghi ngờ được xác định bởi IF giúp giảm đáng kể khối lượng tính toán của giai đoạn phân tích mật độ cục bộ trong khi vẫn bảo toàn phần lớn dữ liệu quan trắc hợp lệ. Kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp IF–LOF là một giải pháp tiền xử lý hiệu quả cho dữ liệu quan trắc cầu sử dụng GNSS
Nghiên cứu thực nghiệm ứng xử mất ổn định xoắn ngang của dầm thép có khiếm khuyết hình học ban đầu
Trang: 687-699 Đoàn Tấn Thi, Nguyễn Xuân Huy, Phạm Văn PhêTóm tắtMất ổn định xoắn ngang là một dạng mất ổn định quan trọng của dầm thép chữ I chịu uốn, trong đó các khiếm khuyết hình học ban đầu có thể ảnh hưởng đáng kể đến độ cứng và sức kháng của cấu kiện. Tuy nhiên, các dữ liệu thực nghiệm về ảnh hưởng của các sai lệch hình học này đến ứng xử mất ổn định của dầm thép vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu này trình bày kết quả thí nghiệm nhằm làm rõ ảnh hưởng của khiếm khuyết hình học ban đầu đến ứng xử mất ổn định xoắn ngang của dầm thép chữ I cán nóng chịu uốn bốn điểm. Ba dầm có tiết diện đối xứng kép được thí nghiệm; độ cong vênh ban đầu của dầm được đo trước khi thí nghiệm và được xét trong quá trình phân tích kết quả. Quan hệ tải trọng – chuyển vị, sự phát triển chuyển vị ngang kết hợp xoắn tại giữa nhịp và tải trọng mất ổn định của dầm có khiếm khuyết hình học ban đầu được xác định và đánh giá. Kết quả thực nghiệm cho thấy sự khác biệt về dạng phân bố và biên độ của khiếm khuyết hình học ban đầu làm thay đổi đáng kể quá trình phát triển chuyển vị ngang kết hợp với xoắn, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chống mất ổn định xoắn ngang của các mẫu dầm được khảo sát. Cơ sở dữ liệu thực nghiệm thu được từ nghiên cứu có thể được sử dụng để hiệu chỉnh và kiểm chứng các mô hình phân tích phần tử hữu hạn, đồng thời hỗ trợ nâng cao độ tin cậy trong dự báo khả năng chịu mất ổn định xoắn ngang của dầm thép có xét đến ảnh hưởng của các khiếm khuyết hình học ban đầu
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào hệ thống điều khiển xe điện tự lái tại trường đại học Nha Trang
Trang: 700-714 Vũ Thăng Long, Trần Đăng Khôi, Nguyễn Văn ThuầnTóm tắtViệc ứng dụng trí tuệ nhân tạo để phát triển xe tự hành là một hướng nghiên cứu đầy tiềm năng và đang thu hút sự quan tâm rộng rãi của cộng đồng khoa học. Trong nghiên cứu này, mạng nơ-ron tích chập được ứng dụng để giải quyết bài toán nhận dạng đường cho mô hình xe điện ba bánh, sử dụng dữ liệu ảnh đầu vào được thu thập từ camera để huấn luyện. Giá trị góc lái mà mạng nơ-ron quyết định sẽ được thực thi thông qua sự điều khiển của một động cơ bước. Kết quả là mạng nơ-ron tích chập sau quá trình huấn luyện đã đạt được độ chính xác cao, lên tới 94%. Quá trình thực nghiệm đã chứng minh hệ thống hoạt động tốt trong việc điều khiển xe tự lái trên đường thử nghiệm được thiết kế. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu cũng nhận ra rằng hệ thống còn nhiều hạn chế, cần được cải tiến để tăng cường tính ổn định và độ chính xác trong các điều kiện vận hành khác nhau. Tóm lại, việc kết hợp mạng nơ-ron tích chập và mạch điện điều khiển góc lái đã đặt nền tảng quan trọng cho những nghiên cứu và phát triển tiếp theo trong lĩnh vực xe tự hành tại Đại học Nha Trang nói riêng và Việt Nam nói chung
Trang: 715-729 Cồ Như VănTóm tắtTai nạn giao thông tại các điểm giao cắt đồng mức giữa đường sắt và đường bộ chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng số các vụ tai nạn đường sắt, đặc biệt tại các đường ngang không người gác. Các hệ thống cảnh báo truyền thống có chi phí đầu tư và phí bảo trì khá cao, trong khi thiết bị tín hiệu đuôi tàu lại được triển khai độc lập để giám sát trạng thái đoàn tàu. Việc tồn tại hai hệ thống riêng biệt làm tăng chi phí đầu tư và phức tạp trong quản lý khai thác. Bài báo đề xuất thiết kế một hệ thống tích hợp chức năng cảnh báo tự động tại đường ngang tự động và thiết bị tín hiệu đuôi tàu dựa trên công nghệ định vị vệ tinh toàn cầu (GNSS) kết hợp với truyền thông vô tuyến tầm xa LoRa. Hệ thống gồm thiết bị đường ngang, thiết bị trên đầu máy, thiết bị tại đuôi tàu và trung tâm giám sát. Dữ liệu GNSS được sử dụng để xác định vị trí và tốc độ đoàn tàu, truyền đến thiết bị đường ngang để kích hoạt cảnh báo, đồng thời sử dụng tín hiệu từ thiết bị đuôi tàu để xác định chính xác thời điểm kết thúc cảnh báo. Giải pháp đề xuất có chi phí thấp, dễ triển khai và góp phần nâng cao an toàn giao thông tại các đường ngang đường sắt
Đáp ứng động của tấm auxetic fgm gia cường graphene origami trên nền đàn nhớt chịu tải trọng nổ
Trang: 730-744 Đỗ Duy Nam, Lê Phạm Bình, Lê Trường SơnTóm tắtMục tiêu của nghiên cứu này là ứng dụng phương pháp phần tử hữu hạn (Finite Element Method-FEM) để phân tích các đặc trưng dao động và phản ứng động của tấm auxetic phân cấp chức năng (FG) được gia cường graphene origami (GOri), sau đây gọi là tấm FG-GOEAM, đặt trên nền đàn hồi nhớt (Visco-elastic Foundation – VEF) và có xét đến ảnh hưởng của trường nhiệt. Tấm FG-GOEAM được mô hình hóa dưới dạng kết cấu nhiều lớp, trong đó hàm lượng GOri thay đổi theo chiều dày của tấm. Các phương trình vi phân chi phối của hệ được thiết lập dựa trên nguyên lý Hamilton, trong đó mô tả đầy đủ tương tác cơ–nhiệt giữa tấm và nền đàn hồi nhớt. Sau khi kiểm chứng độ chính xác và tính hội tụ của mô hình số, một loạt các ví dụ tính toán được tiến hành nhằm khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ khối lượng GOri, mô hình phân bố GOri, nhiệt độ, điều kiện biên, độ cứng của nền, cũng như mức độ gấp nếp của graphene origami đến đặc tính dao động tự do và phản ứng động của tấm dưới tác dụng tải trọng xung (blast load – BL)
Ước lượng nhịp thở không tiếp xúc sử dụng luồng quang học và điện toán biên trên raspberry Pi 5
Trang: 745-759 Hứa Mạnh Trường, Đoàn Mạnh Tú, Phạm Việt ThànhTóm tắtViệc phát triển hệ thống giám sát sức khỏe không tiếp xúc đang trở nên cấp thiết trong chăm sóc y tế từ xa và hỗ trợ can thiệp sớm. Trong bài báo này, chúng tôi giới thiệu một hệ thống HealthCam giám sát nhịp thở sử dụng Raspberry Pi 5 kết hợp webcam để thu video thời gian thực. Hệ thống HealthCam xác định ROI vai-ngực qua MediaPipe Pose, trích xuất tín hiệu hô hấp bằng dịch chuyển landmark và luồng quang học, áp dụng lọc bandpass và phát hiện đỉnh đa phương pháp để tính BPM. Thông qua việc kết hợp điện toán biên, dữ liệu đồng bộ Firebase lên dashboard web với xác thực, và chatbot kép, người sử dụng có thể quan sát bốn biểu đồ: nhịp thở mỗi phút, số nhịp thở theo thời gian đo, trung bình nhịp thở mỗi phút, và chu kỳ thở trung bình. HealthCam hỗ trợ lọc theo thời gian và lưu trữ hồ sơ người dùng. Việc kiểm chứng trên 50 phiên đo cho thấy hệ số tương quan Pearson r = 0.96 so với phương pháp đếm thủ công và độ ổn định trong các điều kiện khác nhau. Giải pháp đề xuất có lợi thế về chi phí thấp, dễ triển khai, khả năng chạy thời gian thực cùng với việc tích hợp AI hỗ trợ phát hiện sớm và quản lý hô hấp cá nhân hóa mang đến tính ứng dụng thực tiễn cao





