Trang: 154-165 Nguyễn Đình Hùng, Nguyễn Từ Thắng, Nguyễn ĐVT Thủy Tiên, Phan Lâm Vẹn, Trần Ngọc LinhTóm tắtCốt đai thường được bố trí ở góc 45° đến 90° so với trục dầm để chống lại vết nứt cắt và làm tăng khả năng chống cắt của cấu trong cấu kiện bê tông cốt thép thường nằm ngang. Nhưng đối với các cấu kiện bê tông cốt thép thường được thiết kế nghiêng, cốt đai có thể được bố trí song song hoặc vuông góc với mặt đất cho dễ thi công. Dưới tác động của lực đổi chiều như lực động đất, lực gió, áp lực dòng chảy, lực va xô … góc nghiêng của cốt đai có thể thành lớn hơn 90°. Khi đó, sự đóng góp của cốt đai vào sức kháng cắt có thể bị suy giảm và cơ chế truyền lực có thể bị thay đổi. Bài báo này trình bày kết quả thí nghiệm dầm bê tông cốt thép có góc cốt đai là 90°, 105°, 125° và 135°. Kết quả cho thấy các dầm đều có cơ chế phá hủy cắt nén. Góc nghiêng của vết nứt cắt nghiêng quyết định trong dầm có cốt đai nghiêng lớn hơn 90° bị dẫn hướng bởi cốt đai nghiêng. Do đó, góc nghiêng của cốt đai càng lớn thì góc nghiêng của vết nứt nghiêng quyết định càng nhỏ làm giảm khả năng chịu lực cắt của dầm. Kết quả cho thấy góc nghiêng của cốt đai không nên lớn hơn 105°.
Trang: 166-180 Lê Văn Chè, Đặng Minh Tân, Bùi Xuân CậyTóm tắtVới thực trạng thành phố Hà Nội đang thiếu hụt nghiêm trọng không gian đỗ xe và chịu áp lực giao thông ngày càng lớn, việc dự đoán hành vi lựa chọn vị trí đỗ xe của người lái xe ô tô có ý nghĩa rất quan trọng. Nghiên cứu này ứng dụng mô hình máy vector hỗ trợ (SVM) nhằm dự đoán hành vi lựa chọn vị trí đỗ xe trên đường tại Hà Nội. Dữ liệu để xây dựng mô hình được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp người lái xe ô tô bằng bảng hỏi tại các khu vực khác nhau trong đô thị. Mô hình SVM được đánh giá thông qua các chỉ số đo lường hiệu suất. Bên cạnh đó, nghiên cứu đã kết hợp phân tích biểu đồ SHAP và biểu đồ phụ thuộc từng phần (PDP) để làm rõ vai trò và cơ chế tác động của biến đầu vào. Kết quả chỉ ra rằng mô hình SVM đạt được hiệu quả cao trong phân loại và dự đoán. Hành vi lựa chọn vị trí đỗ xe chủ yếu chịu chi phối bởi phương thức thu phí, cấp hạng đường phố, đặc điểm hè phố và nguy cơ ùn tắc giao thông, trong khi các yếu tố nhân khẩu học có ảnh hưởng hạn chế. Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp và cơ sở khoa học trong quy hoạch, thiết kế và tổ chức hệ thống đỗ xe tại Hà Nội.
Phân tích xu hướng biến dạng nền đất do đào hầm bằng mô hình kiểm soát chuyển vị (DCM)
Trang: 181-195 Phạm Tuyên DươngTóm tắtBiến dạng nền đất do đào hầm trong điều kiện đất yếu bão hòa là một vấn đề quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn thi công và ổn định công trình lân cận. Nghiên cứu này phân tích xu hướng biến dạng nền đất quanh hầm bằng mô hình kiểm soát chuyển vị (DCM) trong khuôn khổ phương pháp phần tử hữu hạn (FEM), với giả định làm việc trong phạm vi biến dạng nhỏ. Hiệu ứng đào hầm được mô phỏng thông qua chuyển vị cưỡng bức tại biên hầm, phản ánh cơ chế hội tụ của nền đất vào khoảng trống hầm trong quá trình đào. Mô hình được kiểm chứng bằng bài toán Hầm thử nghiệm Heathrow (The Heathrow Express Trial Tunnel), cho thấy sai khác độ lún cực đại tại mặt đất nhỏ hơn 5% so với số liệu quan trắc, qua đó khẳng định khả năng tái hiện hình dạng và xu hướng biến dạng. Trên cơ sở mô hình đã được kiểm chứng, nghiên cứu tiến hành khảo sát có hệ thống ảnh hưởng của đường kính hầm, độ sâu chôn hầm và tỷ lệ thất thoát thể tích đến biến dạng nền đất. Kết quả cho thấy độ lún cực đại tăng gần tuyến tính khi đường kính hầm tăng, giảm rõ rệt khi độ sâu chôn hầm lớn hơn, và gia tăng nhanh theo xu hướng phi tuyến khi tỷ lệ thất thoát thể tích vượt khoảng 1,5%. Nghiên cứu điển hình cho tuyến Metro số 1 TP. Hồ Chí Minh (Bến Thành - Suối Tiên) cho thấy mô hình kiểm soát chuyển vị có khả năng mô tả hợp lý xu hướng biến dạng nền đất trong điều kiện địa chất tương tự. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở tham khảo cho việc đánh giá xu hướng biến dạng và lún mặt đất trong các bài toán hầm đô thị, không nhằm thay thế các phân tích thiết kế chi tiết.
Trang: 196-208 Cao Thị Xuân Mỹ, Văn Hồng TấnTóm tắtLý thuyết Hành vi Hoạch định (TPB) đã được ứng dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về hành vi, tuy nhiên các nghiên cứu về xe điện vẫn cho thấy kết quả chưa nhất quán về mức độ ảnh hưởng tương đối của các cấu trúc tiền đề đến ý định hành vi. Nghiên cứu này thực hiện phân tích tổng hợp 2 giai đoạn (TS-MASEM) nhằm đánh giá mô hình TPB mở rộng với biến Quan tâm Môi trường (EC) trong bối cảnh các nền kinh tế đang phát triển. Dữ liệu trích xuất từ 31 nghiên cứu thực nghiệm của 30 bài báo được mã hóa để đưa vào tính toán hệ số ảnh hưởng giữa 5 cấu trúc. Kết quả phân tích tổng hợp khẳng định tính nhất quán của mô hình TPB khi sử dụng trong các nghiên cứu về xe điện và EC tác động gián tiếp tích cực đến Ý định thông qua Thái độ, nhấn mạnh vai trò trung gian của thái độ trong hành vi áp dụng xe điện. Cuối cùng, định hướng chính sách thúc đẩy di chuyển bền vững tại các quốc gia như Việt Nam được đề xuất.
Đánh giá độ tin cậy của hệ gối đỡ trục khuỷu động cơ đầu máy D19E sử dụng trên đường sắt Việt Nam
Trang: 209-223 Trần Văn Hiếu, Đỗ Đức Tuấn, Nguyễn Đức ToànTóm tắtVới các sản phẩm cơ khí được nhập khẩu, trong đó có động cơ CAT 3512B của đầu máy diesel D19E xuất xứ từ Trung Quốc, thông tin do nhà sản xuất cung cấp chỉ giới hạn ở các thông số kỹ thuật cơ bản, trong khi các chỉ tiêu về độ tin cậy của đối tượng sau quá trình thiết kế, chế tạo, vốn có ý nghĩa quyết định đối với khai thác và bảo trì, hầu như không được công bố. Điều này đặt ra yêu cầu cần đánh giá mức độ tin cậy của các hệ thống quan trọng trên đầu máy, trong đó có hệ gối đỡ trục khuỷu động cơ. Hệ gối đỡ trục khuỷu của động cơ diesel bao gồm các ổ trượt làm việc trong điều kiện bôi trơn thủy động. Xét theo quan điểm độ tin cậy, đây là một hệ thống gồm nhiều phần tử làm việc nối tiếp, trong đó hỏng hóc của bất kỳ phần tử nào cũng có thể dẫn đến mất khả năng làm việc của toàn hệ thống. Vì vậy, nghiên cứu này được triển khai với mục tiêu là ứng dụng lý thuyết độ tin cậy cho các mối ghép ổ trượt nhằm xác định độ tin cậy riêng rẽ của từng mối ghép và đánh giá độ tin cậy tổng hợp của hệ gối đỡ trục khuỷu động cơ CAT 3512B trên đầu máy D19E sau khi chế tạo, trước khi đưa vào sử dụng.





