Trang: 760-773 Bùi Quốc Bảo, Cù Việt HưngTóm tắtCầu cong là dạng cầu có kết cấu nhịp bố trí theo đường cong trong mặt bằng, thường được áp dụng tại các nút giao thông khác mức, cầu vượt đô thị, cầu cạn men sườn núi nhằm đáp ứng yêu cầu của tuyến đường cong hoặc địa hình phức tạp. Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của bán kính cong nằm và điều kiện gối tựa đến ứng xử của cầu dầm hộp bê tông cốt thép liên tục hai nhịp. Mô hình phần tử hữu hạn sử dụng phần tử dầm 7 bậc tự do, cho phép mô tả đầy đủ hiệu ứng xoắn, được thiết lập để phân tích nội lực và biến dạng dưới tải trọng tĩnh và hoạt tải HL-93. Tám giá trị bán kính cong (R = 50÷400 m) cùng hai phương án bố trí gối được khảo sát. Kết quả cho thấy ảnh hưởng của bán kính cong đến ứng xử của cầu là phi tuyến, trong đó khi bán kính giảm, nội lực và biến dạng có xu hướng gia tăng, đặc biệt rõ rệt đối với mô men xoắn. Điều kiện gối tựa có tác động đáng kể đến ứng xử xoắn của kết cấu
Trang: 774-788 Trương Thị Mỹ ThanhTóm tắtTrong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng, phát triển đường sắt đô thị (ĐSĐT) là giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy mô hình đô thị định hướng giao thông công cộng (TOD) tại Hà Nội. Nghiên cứu này tập trung lượng hóa tác động của hệ thống ĐSĐT mới đến giá trị bất động sản, cụ thể là phân khúc chung cư. Thông qua mô hình định giá Hedonic Pricing, nghiên cứu đo lường mức độ biến động giá trị căn hộ dựa trên khả năng tiếp cận các nhà ga Metro. Dữ liệu được thu thập từ cổng thông tin Batdongsan.com.vn giai đoạn tháng 3/2025 – 9/2025. Sau quá trình sàng lọc, mẫu nghiên cứu bao gồm 230 căn hộ thuộc 66 dự án dọc tuyến Cát Linh - Hà Đông và Nhổn - Ga Hà Nội được đưa vào phân tích. Kết quả thực chứng chỉ ra rằng, sau khi kiểm soát các biến số về đặc điểm nội tại căn hộ (diện tích, số phòng, hướng) và tiện ích khu vực (trường học, bệnh viện, thương mại), khoảng cách tới nhà ga có tác động có ý nghĩa thống kê và mang giá trị kinh tế đáng kể. Cụ thể, giá bán chung cư giảm trung bình 12.3% cho mỗi kilômét gia tăng khoảng cách đến nhà ga gần nhất. Phát hiện này cung cấp bằng chứng thực nghiệm quan trọng về cơ chế "vốn hóa" lợi ích hạ tầng giao thông vào giá trị đất đai. Đây là cơ sở khoa học giúp các nhà hoạch định chính sách tối ưu hóa quy hoạch không gian, xây dựng các kịch bản tài chính hạ tầng và hoàn thiện chiến lược phát triển TOD bền vững cho các đô thị lớn tại Việt Nam
Trang: 789-799 Đặng Việt ĐứcTóm tắtSức kháng làm việc của tấm bản chịu nén là giá trị thiết kế quan trọng của kết cấu cầu dầm hộp thép. Các đặc tính vật liệu và mức độ không hoàn hảo về biến dạng ban đầu và ứng suất dư do hàn sẽ ảnh hưởng đáng kể đến giá trị thiết kế này. Những năm gần đây các sản phẩm thép Nhật Bản được áp dụng rất phổ biến trong các công trình cầu thép cho đường bộ và đường sắt ở Việt Nam. Khảo sát tính khả dụng của sản phẩm thép Nhật Bản với tiêu chuẩn thiết kế cầu Việt Nam, vốn căn cứ chủ yếu trên quy trình thiết kế cầu đường bộ Hoa Kỳ, là hết sức cần thiết. Để đánh giá sức kháng thiết kế cần phải xét đến các yếu tố xác suất thống kê của giá trị đầu vào là ứng suất dư và mức độ biến dạng ban đầu. Nghiên cứu sẽ khảo sát giá trị sức kháng đối chiếu với giá trị chảy dẻo (σu/σy) của tấm thép ứng với 2 cấp thép tính năng cao và một cấp thép thường phổ dụng trong thực tiễn Nhật Bản để từ đó đưa ra các đánh giá về độ tin cậy của công thức thiết kế hiện hành và khả năng ứng dụng của các cấp thép khảo sát
Trang: 800-813 Phan Thành Nhân, Nguyễn Thị Hằng, Nguyễn Huỳnh Tấn TàiTóm tắtHư hỏng dạng hằn lún vệt bánh xe được xác định là do sự tích lũy của biến dạng vĩnh cửu (PD) trong mặt đường bê tông nhựa mềm. Do đó, việc mô hình hóa và dự báo chính xác ứng xử PD của vật liệu bê tông nhựa là cần thiết nhằm ngăn ngừa sự hình thành của các vệt hằn lún, giúp đảm bảo an toàn giao thông lâu dài. Không như các vật liệu khác, sự tồn tại và đặc điểm ngưỡng chảy dẻo của vật liệu bê tông nhựa vẫn chưa rõ ràng và còn tranh cãi. Điều này đặt ra một thách thức đáng kể trong việc phát triển các mô hình dự báo chính xác ứng xử PD. Bài báo này trình bày một phương pháp mới để xác định ngưỡng dẻo nhớt áp dụng vào vật liệu bê tông nhựa thông thường trong miền biến dạng nhỏ. Đầu tiên, thuật toán từ biến-hồi phục tổng quát được áp dụng để xác định biến dạng đàn hồi nhớt (VE) và biến dạng dẻo nhớt (VP) của các mẫu trong các thí nghiệm từ biến tuyến tính-hồi phục. Sau đó, sự tồn tại của điểm chảy dẻo được đánh giá dựa trên các đặc tính toán học của đường cong biến dạng VP thu được. Kết quả cho thấy biến dạng VP xảy ra ngay cả trong điều kiện ứng suất cực thấp, do đó củng cố tính hợp lệ của giả thuyết không có ngưỡng chảy dẻo, vốn được chấp nhận rộng rãi đối với vật liệu nhựa đường
Trang: 814-827 Trịnh Hoàng SơnTóm tắtNhu cầu giảm sử dụng xi măng Portland và thay thế cát tự nhiên đang thúc đẩy nghiên cứu bê tông geopolymer một thành phần sử dụng cát nghiền, trong đó việc bảo đảm đồng thời tính công tác và cường độ vẫn là một thách thức. Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của tỷ lệ nước/chất kết dính (N/CKD), tỷ lệ chất hoạt hóa khô/chất kết dính (CHH/CKD) và hàm lượng phụ gia siêu dẻo (PG) đến độ sụt và cường độ nén 28 ngày của bê tông geopolymer hạt nhỏ. Các thí nghiệm được bố trí theo ma trận trực giao và phân tích bằng giá trị trung bình, tỷ số tín hiệu trên nhiễu (S/N). Khi PG tăng từ 0,8% lên 1,6%, độ sụt trung bình tăng từ 74 mm lên 108 mm. Khi N/CKD tăng từ 0,28 lên 0,36, độ sụt trung bình tăng từ 80 mm lên 106 mm, trong khi cường độ nén trung bình giảm từ 68,28 MPa xuống 42,41 MPa. Thứ tự ảnh hưởng đến độ sụt là PG > N/CKD > CHH/CKD, còn đối với cường độ nén là N/CKD > CHH/CKD > PG. Trong phạm vi nghiên cứu, kết quả cho thấy việc tăng PG phù hợp hơn việc tăng N/CKD khi cần cải thiện tính công tác mà vẫn hạn chế được suy giảm cường độ
Mô phỏng số đánh giá khả năng thấm khí của một số dạng vật liệu kiến trúc tiên tiến
Trang: 828-841 Đặng Thị Thu Thảo, Đỗ Hải Hưng, Trần Bảo ViệtTóm tắtVới sự tiến bộ của công nghệ chế tạo bồi đắp, vật liệu kiến trúc tiên tiến có cấu trúc đặc biệt ngày càng có triển vọng ứng dụng cụ thể trong ngành xây dựng. Bài báo này trình bày nghiên cứu đánh giá khả năng thấm khí của các cấu trúc vật liệu kiến trúc tiên tiến dựa trên bề mặt cực tiểu tuần hoàn ba chiều (Triply Periodic Minimal Surfaces - TPMS), bao gồm ba dạng cơ bản: Primitive (P), Gyroid (G) và Diamond (D). Bằng việc ứng dụng phương pháp mô phỏng số Lattice Boltzmann (LBM) với cấu hình không gian D3Q19, dòng chảy không khí qua các không gian rỗng phức tạp của TPMS được mô hình và phân tích chi tiết. Thông qua việc tính toán hệ số thấm không thứ nguyên và đối chiếu trực tiếp với tiêu chuẩn EN 12114 về độ thấm khí của cấu kiện xây dựng, nghiên cứu đã định lượng rõ sự ảnh hưởng của đặc điểm hình học, kích thước và độ rỗng đến lưu lượng và các đặc tính dòng chảy. Kết quả chỉ ra rằng cấu trúc Primitive mang lại khả năng thông gió tốt nhất nhờ các kênh dẫn thẳng, cấu trúc Gyroid cho thấy sự phân bố dòng chảy xoắn ốc đồng đều tối ưu, trong khi cấu trúc Diamond tạo ra trở lực lớn nhất do mạng lưới kênh dẫn uốn lượn và thắt nút cổ chai. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh sự sụt giảm phi tuyến tính mạnh mẽ của hệ số thấm khi độ rỗng và kích thước giảm xuống mức thấp. Các phát hiện này cung cấp cơ sở khoa học vững chắc cho việc thiết kế và ứng dụng vật liệu kiến trúc TPMS trong các hệ thống vách ngăn thông gió tự nhiên và màng bao che công trình hiệu năng cao
Trang: 842-856 Nguyễn Văn Hưng, Trần Bảo Việt, Vũ Thái Sơn, Nguyễn Hoàng Quân, Tạ Quốc ViệtTóm tắtBê tông rỗng là giải pháp thoát nước bền vững, thân thiện với môi trường đang được áp dụng rộng rãi trong hạ tầng đô thị thông minh. Tuy nhiên, việc mô tả chính xác ứng xử phá hủy nén của vật liệu này gặp nhiều thách thức cơ học do cấu trúc lỗ rỗng liên thông ngẫu nhiên lớn và sự tích lũy hư hại phức tạp ở pha liên kết. Nghiên cứu này trình bày việc phát triển, ứng dụng và so sánh hai mô hình trường pha hai biến độc lập (tách biệt cơ chế phá hủy kéo Mode I và nứt nén-cắt) kết hợp tiêu chuẩn Mohr-Coulomb tuyến tính và tiêu chuẩn Hoek-Brown phi tuyến trên nền vi cấu trúc phần tử hữu hạn ngẫu nhiên. Quy trình thiết kế thành phần cấp phối vĩ mô được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa lý thuyết thể tích tiêu chuẩn ACI 522R-10 và mô hình lập trình di truyền (Genetic Programming - GP) tối ưu tỷ lệ Nước/Xi măng (W/C). Kết quả khảo sát số cho thấy các mô hình trường pha nhiều biến đề xuất tại nghiên cứu này phản ánh tốt cơ chế phá phi tuyến vật liệu, phù hợp với một số quan sát thực nghiệm. Ảnh hưởng của một số tham số của mô hình Hoek-Brown lên ứng xử chịu nén của bê tông rỗng được tiến hành khảo sát
Ước lượng các thông số quán tính của ô tô tải theo thời gian thực bằng bộ lọc kalman mở rộng
Trang: 857-871 Phùng Mạnh Hùng, Nguyễn Tuấn Anh, Vũ Tuấn ĐạtTóm tắtTrong quá trình khai thác, khối lượng và các mômen quán tính khối lượng của ô tô có thể thay đổi liên tục do nhiên liệu bị tiêu hao hoặc thay đổi đột ngột do sự tăng, giảm tải trọng. Xác định chính xác sự biến đổi của các đại lượng này đóng vai trò quyết định đối với chất lượng và hiệu quả làm việc của các hệ thống an toàn chủ động trên ô tô. Bài báo này giới thiệu phương pháp ước lượng khối lượng và các mômen quán tính khối lượng của ô tô tải hai trục theo thời gian thực bằng bộ lọc Kalman mở rộng (Extended Kalman Filter – EKF) dựa trên mô hình dao động phi tuyến của thân xe trong không gian với tín hiệu đầu vào là biên độ và vận tốc tương đối của hệ thống treo ở bốn bánh xe và tín hiệu đo là các gia tốc dao động của thân xe. Kết quả mô phỏng và so sánh bằng phần mềm Matlab Simulink cho thấy bộ lọc Kalman mở rộng cho phép ước lượng chính xác giá trị của các thông số quán tính kể cả khi các thông số này giảm đều theo thời gian, trong khi bộ lọc Kalman Bucy (Kalman Bucy Filter – KBF) thiết kế dựa trên mô hình dao động tuyến tính chỉ hoạt động hiệu quả trong trường hợp các thông số quán tính thay đổi dạng bậc
Trang: 872-884 Trần Văn Hiếu, Đỗ Đức Tuấn, Nguyễn Đức Toàn, Nguyễn Thành CôngTóm tắtViệc lựa chọn hợp lý khoảng thời gian làm việc giữa hai lần sửa chữa liên tiếp có ý nghĩa quan trọng trong quản lý độ tin cậy và tổ chức bảo trì các đối tượng kỹ thuật. Đối với những phần tử xuất hiện hư hỏng đột ngột, thời điểm tiến hành sửa chữa chịu ảnh hưởng của quy luật phân bố thời gian làm việc tới hỏng và mối tương quan giữa chi phí sửa chữa theo kế hoạch với chi phí khắc phục hư hỏng ngoài kế hoạch. Nghiên cứu này đề xuất phương pháp xác định thời hạn làm việc tối ưu của phần tử có thời gian làm việc tới hỏng tuân theo phân bố Weibull-Gnedenko dựa trên tiêu chí cực tiểu hóa chi phí sửa chữa tương đối. Từ mô hình toán học được thiết lập, một chương trình tính toán bằng ngôn ngữ Java được phát triển để xác định hàm chi phí tương đối, quãng đường chạy tương đối tối ưu và thời hạn làm việc tối ưu ứng với các tỷ số chi phí khác nhau. Phương pháp được áp dụng cho bộ số liệu gồm 78 giá trị thời gian làm việc tới hỏng của bạc trục và bạc biên động cơ đầu máy diesel. Kết quả cho thấy, khi tỷ số giữa chi phí sửa chữa theo kế hoạch và chi phí sửa chữa đột xuất tăng từ 0,1 đến 0,6, thời hạn làm việc tối ưu tương ứng biến thiên từ 19,0×103 km đến 57,1×103 km. Kết quả thu được chỉ ra ảnh hưởng đáng kể của tương quan chi phí sửa chữa đến thời hạn làm việc tối ưu, đồng thời cung cấp cơ sở định lượng cho việc lựa chọn chu kỳ sửa chữa đối với các chi tiết hư hỏng đột ngột trên phương tiện đường sắt và những đối tượng kỹ thuật có đặc điểm tương tự





